Những giả thuyết về Thượng đế

Carl Sagan
dịch
The varieties of scientific experience

Những giả thuyết về Thượng đế là một chương trong cuốn sách Sự đa dạng của những trải nghiệm khoa học: một quan điểm cá nhân trong cuộc tìm kiếm Thượng đế (The Varieties of scientific experience: A personal view of the search for God) của Carl Sagan. Cuốn sách được Ann Druyan, vợ ông, biên tập từ các bài giảng của ông tại Gifford (1985) và được xuất bản năm 2006, 10 năm sau khi ông mất.

Author

Le Hoang Anh

Published

July 17, 2022

[JWST] Tinh vân Carina, Credits: NASA, ESA, CSA, and STScI

Các bài giảng ở Gifford phải nói về nội dung tự nhiên thần luận. Từ lâu người ta đã hiểu tự nhiên thần luận theo nghĩa tri thức thần học mà có thể được tạo dựng chỉ bằng lý tính, trải nghiệm và thực nghiệm. Chứ không bởi sự mặc khải, không bởi những trải nghiệm thần bí, mà bởi lý tính. Và bằng cách này, rốt cuộc, theo chiều dài lịch sử nhân loại, đây là một quan điểm tương đối mới mẻ. Chẳng hạn chúng ta có thể xem câu sau do Leonard da Vinci viết. Trong sổ ghi chép của mình, ông nói “Trong tranh luận bất cứ ai dùng đến uy quyền người đó không dùng trí tuệ mà dùng trí nhớ.”

Vào đầu thế kỷ 16 khi hầu hết tri thức đều bắt nguồn từ uy quyền thì đây là một tư kiến cực kỳ không chính thống. Bản thân Leonard có rất nhiều xung đột kiểu như vậy. Trong khi leo lên đỉnh núi Alpe, ông đã khám phá xác hóa thạch của loài động vật có vỏ vốn sống ở đáy đại dương. Làm sao điều này có thể diễn ra được? Kiến thức thần học phổ biến cho rằng Cơn Đại Hồng Thủy đã làm ngập những đỉnh núi và mang theo mình những con sò và con hàu. Nhớ rằng Kinh thánh nói trận lụt chỉ kéo dài có 40 ngày, Leonardo đã tìm cách tính toán xem liệu thời gian đó có đủ để mang theo cùng những động vật có vỏ không, ngay cả khi những đỉnh núi đã bị ngập. Những động vật có vỏ đã bị chôn vùi vào giai đoạn nào trong vòng đời của chúng? và vân vân. Ông đã đi đến kết luật rằng không có chuyện đó và đề xuất một thay thế táo bạo; nôm na là, trải qua thời kỳ địa chất vô cùng lâu dài, những đỉnh núi từ đáy đại dương đã trồi lên. Điều này đã đặt ra vô vàn trở ngại có tính thần luận. Nhưng đó là câu trả lời đúng, và tôi nghĩ rằng công bằng mà nói điều đó đã được xác lập hoàn toàn ở thời đại của chúng ta.

Nếu chúng ta phải thảo luận ý tưởng về Thượng đế và bị ràng buộc vào những tranh luận lý tính, thì điều có lẽ hữu ích là phải biết chúng ta đang nói về cái gì khi chúng ta nói “Thượng đế”. Hóa ra điều đó không hề dễ dàng. Người La mã gọi những người Kitô giáo là những kẻ vô thần. Tại sao vậy? Thôi được, người Kitô giáo có thượng đế, nhưng đó không phải thượng đế thực sự. Họ không tin vào sự thiêng liêng của những hoàng đế đã được thần thánh hóa hoặc sự thiêng liêng của những vị thần ở đỉnh Olympus. Họ sở hữu một thượng đế khác. Do vậy người ta dễ dàng gọi những kẻ tin vào một thượng đế khác là những kẻ vô thần. Và chiều hướng chung ấy thịnh hành ở thời đại của chúng ta khi người ta cho rằng một kẻ vô thần là bất cứ kẻ nào không tin chính xác như những gì tôi tin.

Lúc này, có nhiều thuộc tính mà chúng ta nghĩ đến khi chúng ta, những người Phương Tây, hay nói tổng quát hơn những người thuộc truyền thống Do Thái-Kitô-Hồi giáo, nghĩ về Thượng đế. Những khác biệt căn bản giữa Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo là tầm thường khi so sánh với những tương đồng giữa chúng. Chúng ta nghĩ về một ai đó toàn năng, toàn trí, nhân từ, người đã tạo ra vũ trụ, đáp lại những lời nguyện cầu, can dự vào công việc của con người, và vân vân.

Nhưng giả sử có bằng chứng xác quyết về ai đó sở hữu một vài nhưng không phải tất cả những thuộc tính ấy. Giả sử người ta chứng minh thế nào đó rằng có ai đó đã sáng tạo ra vũ trụ nhưng lại dửng dưng trước những lời cầu nguyện… Hoặc, tệ hơn, một thượng đế lãng quên sự tồn tại của nhân loại. Rất giống như thượng đế của Aristotle. Liệu đó là Thượng đế hay không? Giả sử ngài là ai đó toàn năng nhưng không toàn trí, hoặc ngược lại, giả sử thượng đế này hiểu mọi hậu quả từ hành động của mình nhưng có nhiều việc ngài không thể thực hiện, do vậy ngài bị kết án vào một vũ trụ mà ở đó những nguyện vọng của ngài không thể hoàn thành được. Người ta hiếm khi nghĩ đến hoặc thảo luận những hình thức thượng đế khác. Một tiền giả định là không có lý do nào để những thượng đế ấy không nên giống tương tự những hình thức thượng đế phổ biến hơn.

Rồi chủ đề trở nên khó hiểu hơn nữa bởi thực tế là những nhà thần học nổi bật như Paul Tillich chẳng hạn, người đã thực hiện Những bài giảng ở Gifford nhiều năm về trước, đã công khai phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế, chí ít với tư cách là một năng lực siêu nhiên. Vậy thì, nếu như một nhà thần học có uy tín (và ông ta không hề là người duy nhất) phủ nhận Thượng đế là một tồn tại siêu nhiên, thì đối với tôi chủ đề này dường như hơi khó hiểu. Phạm vi của các giả thuyết được xem xét một cách nghiêm túc trong chuyên mục “Thượng đế” thật là rộng lớn. Quan điểm chất phác Phương Tây Thượng đế là một người đàn ông to lớn, da trắng, để râu dài, ngồi trên một chiếc ngai lớn trên bầu trời và đếm từng con chim sẻ rơi.

Đối lập lại hình ảnh ấy bằng một hình ảnh hoàn toàn khác biệt về Thượng đế, hình ảnh được Baruch Spinoza và Albert Einstein đề xướng. Và ở hình thức thứ hai về thượng đế này họ gọi Thượng đế theo cách rất dễ hiểu. Einstein bao giờ cũng diễn giải thế giới theo những gì Thượng đế làm hoặc không làm. Nhưng nói đến Thượng đế là họ muốn nói về điều gì đó không khác biệt lắm với tổng số những quy luật vật lý trong vũ trụ; tức là Thượng đế bằng luật hấp dẫn cộng cơ học lượng tử cộng các lý thuyết trường thống nhất lớn cộng một vài quy luật. Và bằng cách đó tất cả những gì họ muốn nói ở đây là một tập hợp các định luật vật lý mạnh mẽ sắc sảo dường như giải thích được phần lớn về vũ trụ mà nếu khác đi thì không thể giải thích được. Các định luật tự nhiên, như tôi đã nói trước đây, không chỉ áp dụng một cách cục bộ, không chỉ áp dụng ở Glasgow, mà ở xa hơn nhiều: ở Edinburgh, ở Moscow, ở Bắc Kinh, ở Hỏa tinh, ở sao Alpha Centauri, ở trung tâm của dải Ngân Hà, và ở những quasar xa xôi nhất mà người ta từng biết. Những quy luật vật lý như nhau áp dụng được ở mọi nơi là một điều rất đáng chú ý. Dĩ nhiên điều đó thể hiện một sức mạnh to lớn hơn bất cứ ai trong chúng ta. Nó thể hiện tính có quy luật đến bất ngờ đối với vũ trụ. Nó không nhất thiết phải như thế. Đáng ra có thể là ở mỗi vùng của vũ trụ có những quy luật của riêng nó về tự nhiên. Ngay từ đầu việc tồn tại những quy luật như nhau áp dụng ở khắp mọi nơi là không hề hiển nhiên.

Giờ thì, thật ngớ ngẩn khi phủ nhận sự tồn tại của các quy luật tự nhiên. Và nếu đó là chính là điều chúng ta đang nói đến khi chúng ta nói về Thượng đế, thì không ai có thể là một người vô thần, hoặc ít nhất bất cứ ai thú nhận là vô thần đều sẽ phải đưa ra lập luận chặt chẽ về lý do các quy luật tự nhiên không thể áp dụng được.

Tôi nghĩ rằng người đó sẽ bị truy hỏi. Vậy thì với định nghĩa thứ hai về Thượng đế, tất cả chúng ta đều tin vào Thượng đế. Định nghĩa đầu tiên về Thượng đế là mơ hồ hơn rất nhiều. Và tồn tại vô vàn các loại thượng đế khác. Và ở mọi trường hợp chúng ta phải hỏi, “Anh/chị đang nói về thượng đế nào, và đâu là bằng chứng tồn tại của thượng đế ấy?”

Dĩ nhiên nếu chúng ta bị giới hạn vào tự nhiên thần luận, thì chưa đủ khi nói, “Tôi tin rằng có
thượng đế ấy, bởi đó là thượng đế mà người ta kể cho tôi biết khi tôi còn nhỏ,” bởi vì người ta được kể về những điều khác biệt về những tôn giáo hoàn toàn khác biệt mà chúng mâu thuẫn với những gì cha mẹ tôi kể. Do vậy tất cả những điều ấy không thể đều đúng. Và thực tế tất cả chúng có thể đều sai. Đúng là nhiều tôn giáo khác nhau không nhất quán với nhau. Không phải vì chúng không giống nhau một cách hoàn hảo mà bởi vì chúng hết sức đối lập với nhau.

Tôi sẽ đưa cho các bạn một ví dụ; có rất nhiều ví dụ. Trong truyền thống Do thái-Kitô-Hồi giáo thế giới có tuổi hữu hạn. Bằng cách đếm những thế hệ trong Kinh cựu ước, bạn có thể đi đến kết luận rằng thế giới chắc chắn ít hơn 10 nghìn năm tuổi. Vào thế kỷ XVII, tổng giám mục Armagh, James Ussher, thực hiện một nỗ lực can đảm nhưng sai lầm về căn bản nhằm đếm các thế hệ thật chính xác. Ông đã đi đến một ngày xác định mà Thượng đế đã tạo ra thế giới. Đó là ngày 23 Tháng 10 năm 4004 TCN, một ngày Chủ Nhật.

Bây giờ, hãy nghĩ về mọi khả năng: thế giới không có thượng đế; thượng đế không có thế giới; thượng đế được tạo ra bởi những thượng đế đã tồn tại trước đó, những thượng đế bao giờ cũng có mặt ở đây; những thượng đế không bao giờ chết; những thượng đế chết; những thượng đế chết hơn một lần, những mức độ khác nhau của sự can dự thần thánh tới công việc của con người; zero, một hay nhiều nhà tiên tri; zero, một hay nhiều đấng cứu thế; zero, một hay nhiều lần hồi sinh; zero, một hay nhiều thượng đế. Và những câu hỏi liên quan đến thánh lễ, tục cắt xẻo mang tính tôn giáo, và sự hy sinh, rửa tội, trật tự tu viện, những kỳ vọng khổ hạnh, sự có mặt hay vắng mặt của kiếp sau, ngày phải ăn cá, ngày không ăn gì cả, có bao nhiêu kiếp sau mà bạn trải qua, công lý ở thế giới này hay ở thế giới sau hoặc không ở thế giới nào cả, tái sinh, hiến sinh, thánh chiến, và vân vân. Người ta tin vào biết bao nhiêu điều. Các tôn giáo khác nhau tin vào những điều khác nhau. Có cả vô vàn những tôn giáo thay thế khác. Và rõ ràng có nhiều tổ hợp thay thế hơn so với tôn giáo đang có, mặc dầu vậy ngày nay trên hành tinh này có khoảng vài nghìn tôn giáo. Trong lịch sử thế giới, đã có khoảng vài chục nghìn, có thể vài trăm nghìn tôn giáo, nếu bạn nghĩ về những tổ tiên săn bắt hái lượm khi mà những cộng đồng người điển hình gồm khoảng một trăm người. Thời kỳ ấy có bao nhiêu đoàn người săn bắt hái lượm thì có bấy nhiêu tôn giáo, mặc dù sự khác biệt giữa những tôn giáo ấy có lẽ không hề lớn đến vậy. Nhưng không ai biết, bởi vì, thật không may, chúng ta gần như không có tri thức nào còn để lại về những gì mà tổ tiên của chúng ta đã tin vào, những người thuộc phần lớn nhất của thời kỳ con người chiếm giữ hành tinh này, bởi vì truyền thống truyền miệng là chưa đủ và chữ viết vẫn chưa được phát minh.

Vậy nên, hãy xem xét một loạt những thay thế sau, điều xuất hiện trong đầu chúng ta là thật kinh ngạc làm sao khi ai đó có một trải nghiệm cải đạo, thì hầu như bao giờ cũng là sang một tôn giáo hoặc một trong số các tôn giáo được cộng đồng của anh/chị ta theo. Bởi vì có rất nhiều khả năng khác. Chẳng hạn, ở phương Tây hiếm khi ai đó có trải nghiệm cải đạo mà ở đó vị thần chủ đạo có đầu của một con voi và được tô màu xanh lam. Điều đó là rất hiếm. Nhưng ở Ấn độ, có một vị thần đầu voi, màu lam được nhiều người thờ phụng. Và việc nhìn thấy hình vẽ về vị thần này là không quá hiếm. Làm sao mà sự xuất hiện của vị thần đầu voi ấy lại bị giới hạn ở những người Ấn độ và không diễn ra ở đâu khác ngoại trừ những nơi có truyền thống Ấn độ mạnh mẽ? Làm sao mà sự xuất hiện của Đức mẹ Đồng trinh là phổ biến ở phương Tây nhưng hiếm khi xảy ra ở phương Đông nơi không có truyền thống Kitô giáo mạnh mẽ? Tại sao những chi tiết về niềm tin tôn giáo không vượt qua được những rào cản văn hóa? Thật khó có thể giải thích trừ khi những chi tiết ấy được quyết định hoàn toàn bởi văn hóa địa phương và không có gì liên quan tới những gì có giá trị ở bên ngoài.

Nói cách khác, bất cứ khuynh hướng đã tồn tại từ trước nào đối với niềm tin tôn giáo đều có thể bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi văn hóa bản địa, bất cứ nơi đâu mà tình cờ bạn trưởng thành ở đó. Và đặc biệt nếu trẻ con sớm được tiếp xúc với một tập hợp nhất định các giáo lý, âm nhạc, nghệ thuật và nghi lễ, thì điều đó là tự nhiên như việc hít thở, đó là lý do tại sao các tôn giáo cố gắng thu hút những người khi họ còn rất trẻ.

Hay chúng ta hãy lấy một khả năng khác. Giả sử một nhà tiên tri xuất hiện người này nhận mình có mặc khải từ Thượng đế và mặc khải ấy mâu thuẫn với mọi mặc khải của tất cả các tôn giáo trước đây. Làm thế nào một người bình thường, một ai đó không quá may mắn để đón nhận sự mặc khải ấy một cách cá nhân, quyết định liệu sự mặc khải mới này là có giá trị hay không? Cách có căn cứ duy nhất là thông qua tự nhiên thần luận. Bạn phải hỏi, “Bằng chứng đâu?” Và chưa đủ khi nói “Được thôi, người có sức thuyết phục cực kỳ đặt biệt này đã nói rằng anh ta có một trải nghiệm cải đạo.” Chưa đủ. Có rất nhiều người có sức thuyết phục, họ có đủ loại trải nghiệm cải đạo khác nhau. Họ không thể tất cả cùng đúng. Một số họ phải sai. Nhiều người trong số họ phải sai. Thậm chí có thể tất cả họ đều sai. Chúng ta không thể phụ thuộc hoàn toàn vào những gì họ nói. Chúng ta phải tìm xem bằng chứng là gì.

Bây giờ tôi muốn chuyển sang vấn đề của những bằng chứng hay, như người ta gọi chúng, những chứng minh cho sự tồn tại của Thượng đế. Và tôi sẽ chủ yếu sử dụng thời gian của tôi vào những chứng minh của Phương Tây. Nhưng để cho thấy một tinh thần toàn thế giới, hãy để tôi bắt đầu bằng những chứng minh của đạo Hindu, mà ở nhiều khía cạnh là tinh vi và dĩ nhiên là lâu đời hơn nhiều so với những lập luận của Phương Tây.

Udayana, một nhà logic học ở thế kỷ XI, có một tập hợp những bằng chứng về sự tồn tại của Thượng đế, và tôi sẽ không đề cập đến toàn bộ các bằng chứng ấy; tôi sẽ chỉ thử truyền tải ý nghĩa của chúng. Và, bằng cách ấy, thượng đế mà Udayana đang nói đến không hoàn toàn giống thượng đế Do thái-Kitô-Hồi giáo, như bạn có thể hình dung ra. Thượng đế của ông là toàn trí và bất diệt nhưng không nhất thiết phải toàn năng và đầy lòng trắc ẩn.

Đầu tiên là, Udayana lập luận rằng mọi sự vật phải có một nguyên nhân. Thế giới đầy những sự vật. Điều gì đó ắt đã tạo ra những sự vật ấy. Và Điều này rất giống với tranh luận Phương tây mà chúng ta sẽ sớm đề cập.

Thứ hai là, một tranh luận không thấy có ở Phương Tây là tranh luận về tổ hợp nguyên tử. Điều này khá phức tạp. Nó nói rằng khởi thủy của Sáng tạo, các nguyên tử phải liên kết với nhau để tạo ra những thứ to lớn hơn. Và liên kết nguyên tử ấy bao giờ cũng đòi hỏi sự hoạt động của phần tử có ý thức. Vâng, giờ đây chúng ta biết quan niệm ấy là sai lầm. Hay chúng ta biết, ít nhất, rằng có những quy luật tương tác nguyên tử quyết định cách thức các nguyên tử liên kết với nhau. Đây là môn hóa học. Và chúng ta có thể nói rằng điều đó là do sự can dự của một vị thần nhưng không đòi hỏi sự can dự trực tiếp của một vị thần. Tất cả những gì mà vị thần làm là thiết lập những quy luật hóa học rồi đi nghỉ.

Thứ ba là, một tranh luận xuất phát từ sự lửng lơ của thế giới. Thế giới đang không rơi xuống, điều đó là rõ ràng chỉ cần nhìn ra ngoài. Chúng ta không văng vào không gian, tất nhiên, và do đó có cái gì đó đang giữ thế giới, và cái gì đó ấy là Thượng đế. Vâng, đây là quan điểm rất tự nhiên về sự vật. Nó gắn liền với tư tưởng cho rằng chúng ta tĩnh tại và ở trung tâm của vũ trụ, một hiểu lầm mà tất cả mọi người trên trái đất đã từng mắc phải. Thực tế chúng ta đang rơi với tốc độ kinh hoàng trên quỹ đạo quanh Mặt trời. Và mỗi năm chúng ta đi qua \(2\pi\times\) bán kính của quỹ đạo trái đất. Nếu bạn tính toán ra, bạn sẽ thấy tốc độ nhanh khủng khiếp.

Lập luận thứ tư là về sự tồn tại của những kỹ năng con người. Và điều này rất gần với lập luận của von Däniken rằng nếu ai đó không chỉ cho chúng ta cách thực hiện, chúng ta không thể biết cách làm. Tôi nghĩ có rất nhiều lập luận phản bác điều đó.

Do vậy sự tồn tại của tri thức có tính uy quyền tách rời với kỹ năng con người. Chẳng hạn, làm sao chúng ta biết sự vật trong kinh Vedas, bộ kinh linh thiêng của đạo Hindu, trừ phi Thượng đế đã viết bộ kinh ấy? Udayana rất khó chấp nhận tư tưởng cho rằng con người có thể viết kinh Vedas. Vậy thì, điều này đem lại ý nghĩa của những lập luận này và chỉ ra rằng tồn tại một mong ước sâu sa của con người muốn đem lại giải thích lý tính cho sự tồn tại của Thượng đế hoặc nhiều thượng đế, và đồng thời, tôi nhấn mạnh, nó cho thấy những lập luận ấy không phải bao giờ cũng thành công. Bây giờ hãy để tôi xem một số tranh luận của Phương Tây, chúng có thể hoàn toàn quen thuộc với mọi người, nếu đúng vậy tôi xin lỗi.

[JWST] Nhóm thiên hà Stephan’s Quintet, Credits: NASA, ESA, CSA, and STScI

Đầu tiên là lập luận về mặt vũ trụ học, nó không khác lắm với tranh luận mà chúng ta vừa nghe. Lập luận theo vũ trụ học ở Phương Tây về căn bản có liên quan đến tính nhân quả. Tồn tại mọi sự vật chung quanh chúng ta; những sự vật ấy là kết quả của các sự vật khác. Và cứ như vậy, sau một hồi, bạn thấy mình trở về với những thời gian và những nguyên nhân xa xôi. Vậy, nó không thể cứ tiếp tục mãi, một quá trình hồi quy vô hạn của các nguyên nhân, như Aristotle và sau này Thomas Aquinas tranh luận, và do vậy bạn phải đi tới một nguyên nhân đầu tiên không có nguyên nhân. Một điều gì đó đã khởi động tất cả mà bản thân nó không có nguyên nhân; tức là, cái bao giờ cũng đã ở đó. Và cái đó được định nghĩa là Thượng đế.

Ở đây có hai giả thuyết xung đột nhau, hai giả thuyết thay thế nhau. Một cái cho rằng vũ trụ bao giờ cũng tồn tại, và cái khác cho rằng Thượng đế bao giờ cũng tồn tại. Tại sao lại ngay lập tức hiển nhiên là một trong hai cái khả dĩ hơn cái còn lại? Hay, nói cách khác, nếu chúng ta nói rằng Thượng đế đã tạo ra vũ trụ, vậy thì có lý khi hỏi, “Vậy ai đã tạo ra Thượng đế?”

Gần như mọi đứa trẻ đặt câu hỏi ấy và cha mẹ thường bắt chúng im lặng và bảo chúng không được đặt những câu hỏi đáng hổ hẹn. Nhưng tại sao nói rằng Thượng đế đã tạo ra vũ trụ, rồi không bao giờ bận tâm hỏi Thượng đế từ đâu đến, làm sao điều này lại thỏa mãn hơn việc nói rằng vũ trụ bao giờ cũng tồn tại?

Trong vật lý thiên văn hiện đại có hai quan điểm đối lập nhau. Đầu tiên là, không còn nghi ngờ gì nữa, và tôi nghĩ rằng gần như mọi nhà vật lý thiên văn đều nhất trí, bằng chứng về sự dãn nở của vũ trụ, sự lùi ra xa nhau giữa các thiên hà và về cái được gọi là bức xạ nền vật-đen 3 độ, gợi ý rằng khoảng 13 hoặc 15 tỷ năm trước tất cả vật chất trong vũ trụ bị nén vào một thể tích vô cùng nhỏ, và rằng có điều gì đó có thể gọi là một vụ nổ xảy ra ở thời điểm ấy, và rằng sự dãn nở tiếp theo của vũ trụ và sự tích tụ của vật chất đã tạo ra các thiên hà, các ngôi sao, các hành tinh, các sinh vật sống, và tất cả những chi tiết còn lại của vũ trụ mà chúng ta thấy chung quanh mình.

Vậy điều gì diễn ra trước đó? Có hai quan điểm. Một quan điểm là “Đừng đặt câu hỏi ấy” tức là rất gần với việc nói Thượng đế đã thực hiện. Quan điểm khác là chúng ta sống trong một vũ trụ dao động ở đó có vô hạn những lần co và dãn.1 Chúng ta tình cờ ở 15.000 triệu năm từ lần dãn nở gần nhất. Giả sử, khoảng 80.000 triệu năm kể từ lúc này, sự dãn nở sẽ kết thúc, bị thay thế bằng sự co lại, và tất cả vật chất sẽ cùng nhau bay về thể tích rất nhỏ và rồi lại dãn ra lần nữa mà không có sự rò rỉ thông tin từ những điểm lùi trong quá trình dãn nở.

Trong những thế giới quan ấy, thế giới quan đầu tình cờ gần gũi với thế giới quan Do thái-Kitô-Hồi giáo, thế giới quan sau gần gũi với thế giới quan của đạo Hindu chuẩn. Và do vậy, nếu bạn muốn, bạn có thể nghĩ về những luận điểm khác của hai thế giới quan tôn giáo chủ đạo này đã đấu tranh trên mặt trận của vũ trụ đương thời. Bởi vì đó là nơi câu trả lời cho câu hỏi này rất có thể sẽ được định đoạt. Có đủ vật chất trong vũ trụ để ngăn chặn sự dãn nở cứ tiếp tục diễn ra mãi? Đó là một câu hỏi có tính thực nghiệm. Và rất có thể trong cuộc đời của chúng ta chúng ta sẽ có lời giải cho nó. Và tôi nhấn mạnh rằng điều này rất khác với cách tiếp cận thần luận thông thường, nơi không bao giờ tiến hành một thực nghiệm nhằm kiểm tra bất cứ vấn đề tranh cãi nào. Ở đây có một thực nghiệm. Do vậy lúc này chúng ta không phải phán đoán. Tất cả những gì chúng ta phải làm là duy trì một dung sai nhất định cho sự không chắc chắn đến khi có dữ liệu, cái có thể diễn ra trong một thập kỷ hoặc ngắn hơn. Có thể là Kính viễn vọng Không gian Hubble, đã được lên kế hoạch phóng vào mùa hè tới, sẽ cung cấp lời giải cho câu hỏi này. Điều đó không được đảm bảo nhưng có thể.2

Bây giờ, nhân tiện về vấn đề ai lâu đời hơn, Thượng đế hay vũ trụ, thực ra có một ma trận lựa chọn 3x3: Thượng đế có thể bao giờ cũng đã tồn tại nhưng sẽ không tồn tại trong tương lai. Tức là nói Thượng đế vô thủy hữu chung. Thượng đế hữu thuỷ vô chung. Thượng đế vô thủy vô chung. Vũ trụ có thể có tuổi vô hạn, nhưng sẽ kết thúc. Vũ trụ có thể khởi đầu ở thời điểm hữu hạn nhưng sẽ tiếp tục mãi, hoặc nó có thể bao giờ cũng tồn tại và sẽ không có kết thúc. Đó là chỉ những khả năng logic. Và điều kỳ lạ là ở chỗ thần thoại của nhân loại có một vài khả năng này mà không có những khả năng khác. Tôi nghĩ rằng ở Phương Tây rõ ràng là người ta đã áp đặt mô hình vòng-đời của con người và con vật vào vũ trụ. Đó là điều tự nhiên khi nghĩ đến, nhưng ngay sau đó những hạn chế của nó, tôi cho rằng, trở nên hiển nhiên.

Tôi cũng phải nói điều gì đó về Định luật thứ hai của Nhiệt động lực học. Một lập luận đôi khi được sử dụng để biện hộ cho niềm tin vào Thượng đế là Định luật thứ hai của Nhiệt động lực học nói rằng toàn bộ vũ trụ đi đến chỗ suy tàn; tức là, tổng số trật tự trong vũ trụ phải suy giảm. Theo thời gian sự Hỗn độn phải gia tăng; tức là, diễn ra trong toàn bộ vũ trụ. Nó không nói rằng ở một khu vực nhất định, chẳng hạn Trái đất, tổng số trật tự không thể gia tăng, và rõ ràng nó đã gia tăng. Sinh vật sống, bên trong chúng, chúng sở hữu trật tự lớn hơn rất nhiều so với chất liệu thô mà từ đó sự sống đã được hình thành từ khoảng 4.000 triệu năm trước. Nhưng sự gia tăng trong trật tự này ở Trái đất là đã hoàn tất, và đủ dễ dàng để tính toán, với cái giá là sự suy giảm trật tự ở Mặt trời, nơi là nguồn năng lượng thúc đẩy sinh vật học trên hành tinh. Điều không hề hiển nhiên là Định luật thứ hai của Nhiệt động lực học áp dụng cho toàn bộ vũ trụ, bởi vì đó là một quy luật từ thực nghiệm, và chúng ta không có trải nghiệm với toàn bộ vũ trụ. Nhưng điều bao giờ cũng khiến tôi ngạc nhiên là những người muốn áp dụng Định Luật thứ hai vào những vấn đề thần luận không đặt câu hỏi liệu Thượng đế có là đối tượng của Định tuật thứ hai. Bởi vì nếu Thượng đế là đối tượng của Định luật thứ hai của nhiệt động lực học, thì Thượng đế chỉ có vòng đời hữu hạn. Và một lần nữa, có sự vận dụng bất đối xứng của các nguyên lý vật lý khi thần luận đối mặt với vấn đề nhiệt động lực học.

Cũng nhân tiện, nếu có nguyên nhân đầu tiên không có nguyên nhân, điều đó không hề nói gì về sự toàn năng hay toàn trí, hay lòng trắc ẩn, hay độc thần giáo. Và Aristotle, thực tế, đã suy diễn vài chục nguyên nhân đầu tiên trong thần luận của ông.

Lập luận theo tiêu chuẩn Phương Tây thứ hai cho sự tồn tại của Thượng đế là lập luận từ quan điểm thiết kế, chúng ta đã từng nói đến, cả ở bối cảnh sinh vật học của nó và ở hiện thân ở mặt vật lý thiên văn được gọi là nguyên lý vị nhân. Đó là lập luận từ sự tương tự; tức là, một số sự vật do con người tạo ra và lại có sự vật phức tạp hơn không phải do chúng ta tạo ra, do vậy sự vật ấy có thể được tạo ra bởi sinh vật thông minh hơn chúng ta. Tốt thôi, có thể, nhưng đó không phải là lập luận thuyết phục. Trước đây tôi cố gắng nhấn mạnh phạm vi mà sự hiểu lầm, sự thất bại ở mặt tưởng tượng, và đặc biệt sự khiếm khuyết ở mặt nhận thức về những nguyên lý nền tảng mà có thể đưa chúng ta tới sai lầm với lập luận từ quan điểm thiết kế. Những hiểu biết cực kỳ sâu sắc của Charles Darwin ở mặt sinh vật học của tranh luận từ quan điểm thiết kế đem lại những cảnh báo rõ ràng rằng có thể có những nguyên lý mà chúng ta chưa tiên đoán [divine] (nếu tôi có thể sử dụng chữ này) được cái trật tự hiển nhiên căn bản.

Trong vũ trụ dĩ nhiên đầy rẫy những trật tự, song cũng đầy rẫy những hỗn loạn. Tâm của các thiên hà thường xuyên nổ tung, và nếu như có những thế giới và những nền văn minh định cư ở đó, thì hàng triệu trong số chúng bị phá hủy, cùng với mỗi vụ nổ của nhân thiên hà hoặc của một quasar. Điều đó có vẻ không giống như một vị thần biết mình đang làm gì. Kẻ giống như một tập sự đang ngập đầu trong rắc rối. Có lẽ họ bắt đầu tập sự tại các trung tâm thiên hà rồi sau đó, khi đã có được chút kinh nghiệm, họ nhận những công việc quan trọng hơn.

Tiếp đến là lập luận ở phương diện đạo đức cho sự tồn tại của Thượng đế mà nói chung người ta thường quy cho Immanuel Kant, ông rất giỏi trong việc chỉ ra những khiếm khuyết ở những lập luận khác. Lập luận của Kant rất đơn giản. Nó cho rằng chúng ta là những sinh vật có đạo đức; bởi vậy Thượng đế tồn tại. Tức là, làm thế nào chúng ta biết ai khác có đạo đức? Được thôi, đầu tiên bạn có lẽ tranh luận rằng tiền đề này là mơ hồ. Mức độ mà ở đó con người có thể được coi là những sinh vật có đạo đức mà không có sự tồn tại của lực lượng cảnh sát nào đó là vấn đề phải tranh luận. Nhưng hãy gạt điều đó sang bên một lát. Nhiều loài sinh vật có những quy tắc hành vi. Lòng vị tha, những cấm kỵ liên quan giao phối cận huyết, yêu thương trẻ nhỏ, bạn có thể tìm thấy ở mọi loài sinh vật. Những con cá sấu ở sông Nile ngậm trứng của chúng trong miệng băng qua một khoảng cách rất dài để bảo vệ con non. Chúng có thể làm món ốp-lết từ quả trứng ấy, nhưng chúng chọn không làm vậy. Tại sao? Bởi vì những con cá sấu thích ăn trứng mà sẽ nở ra con non thì không để lại những thế hệ sau. Sau một thời gian tất cả những gì bạn có là những con cá sấu biết cách chăm sóc những con non. Điều đó rất dễ hiểu. Thế nhưng chúng ta có cảm giác suy nghĩ về nó có vẻ là hành vi đạo đức như thế nào đó. Tôi không phản đối việc chăm sóc trẻ em; tôi kiên quyết ủng hộ điều đó. Tất cả những gì tôi nói là, nếu như chúng ta có động cơ mạnh mẽ nhằm chăm sóc con cái của chúng ta hoặc con cái của tất cả mọi người trên hành tinh này, thì không phải Thượng đế khiến chúng ta làm điều đó. Chọn lọc tự nhiên có thể khiến chúng ta làm điều đó, và gần như nó chắc chắn như vậy. Thêm nữa, một khi con người đạt đến mức độ nhận thức về sự vật chung quanh mình, thì chúng ta có thể luận ra và có thể hiểu điều gì là tốt cho sự sinh tồn của chính chúng ta với tư cách là một cộng đồng hay một dân tộc hay một loài và tiến hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự sinh tồn của chúng ta. Điều đó không vượt quá năng lực của chúng ta một cách vô vọng. Điều không hề hiển hiên đối với tôi là cần phải có sự tồn tại của Thượng đế để giải thích mức độ hạn chế nhưng xác định của hành vi luân lý và đạo đức, điều là hiển nhiên trong xã hội loài người.

Tiếp đến là một lập luận kỳ lạ, chỉ có ở Phương Tây, được gọi là “bản thể luận”3 mà người ta thường gắn nó với [St.] Anselm, ông mất năm 1109. Lập luận của ông có thể được tuyên bố một cách rất đơn giản như sau: Thượng đế là hoàn hảo. Tồn tại là thuộc tính thiết yếu cho sự hoàn hảo. Do đó, Thượng đế tồn tại. Thật dễ hiểu? Tôi sẽ nhắc lại. Thượng đế là hoàn hảo. Tồn tại là thuộc tính thiết yếu cho sự hoàn hảo. Bạn không thể hoàn hảo nếu bạn không tồn tại, Anselm nói vậy. Bởi vậy Thượng đế tồn tại. Mặc dầu lập luận này có lúc đã thu hút những nhà tư tưởng lớn (Bertrand Russsell mô tả làm thế nào mà nó đã đột nhiên xảy đến với ông rằng Anselm có thể đúng – trong khoảng 15 phút), đây không được xem là một lập luận thành công. Ernest Nagel nhà logic học ở thế kỷ 20 mô tả nó là “sự nhầm lẫn ngữ pháp với logic”.

“Thượng đế là hoàn hảo” Điều này có nghĩa là gì? Bạn cần phải có một mô tả riêng biệt về cái gì tạo nên sự hoàn hảo. Nói “hoàn hảo” mà không hỏi “hoàn hảo” là gì thì không đủ. Và làm sao bạn biết Thượng đế là hoàn hảo? Có lẽ đó không phải là thượng đế đang tồn tại, một thượng đế hoàn hảo. Có lẽ chỉ tồn tại những thượng đế không hoàn hảo. Vậy thì tạo sao tồn tại lại là thuộc tính căn bản của sự hoàn hảo? Tại sao không-tồn tại lại không phải là thuộc tính căn bản của sự hoàn hảo? Chúng ta đang nói về câu chữ. Thực tế, người ta hay đề cập đến điều rất đáng chú ý về Phật giáo, tôi nghĩ theo một cách tích cực, rằng thượng đế của họ vĩ đại đến nỗi ngài thậm chí không cần tồn tại. Và đó là đối trọng hoàn hảo của bản thể luận. Trong mọi trường hợp, tôi không nghĩ rằng bản thể luận là thuyết phục.

Tiếp đến là lập luận từ quan điểm ý thức. Tôi tư duy, cho nên, Thượng đế tồn tại; tức là, làm thế nào mà ý thức trở thành tồn tại? Và thực ra, chúng ta không biết về chi tiết nào ngoài những khái quát lớn về sự tiến hóa của ý thức. Đó là chủ đề của khoa thần kinh học tương lai. Nhưng chúng ta biết rõ, chẳng hạn, một con giun đất ở trong một ống thủy tinh hình chữ Y, ví dụ, cho một kích điện vào nhánh phải và thức ăn ở nhánh trái, nó nhanh chóng học được cách chọn nhánh trái. Liệu con giun đất có ý thức khi nó có thể biết ở đâu có thức ăn và không có sốc điện sau một số lần thử? Và nếu con giun đất có ý thức, thì động vật nguyên sinh có thể có ý thức không? Nhiều vi sinh vật hướng quang biết cách tìm đến ánh sáng. Chúng có bộ phận cảm giác bên trong thế nào đó về nơi có ánh sáng, và không ai dạy chúng rằng tìm đến ánh sáng là tốt. Chúng sở hữu thông tin ấy trong chất liệu di truyền của chúng. Nó được mã hóa trong gene và các nhiễm sắc thể. Vậy, có phải Thượng đế đặt thông tin vào đó, hay có thể chúng đã tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên?

Biết nơi nào có ánh sáng rõ ràng là một lợi thế sinh tồn cho vi sinh vật, đặc biệt là những sinh vật quang hợp. Biết ở đâu có thức ăn dĩ nhiên là có lợi cho giun đất. Những con giun đất không thể tìm ra nơi có thức ăn sẽ để lại ít hậu duệ. Sau một thời gian những con sống sót là những con biết tìm thức ăn. Các hậu duệ hướng quang hoặc theo ánh sáng đã mã hóa vào chất liệu di truyền của chúng cách thức tìm ra ánh sáng. Điều không hiển nhiên là Thượng đế đã tham gia vào quá trình này. Có thể, nhưng đó không phải là tranh luận thuyết phục. Và quan điểm của nhiều nhà sinh-học-thần-kinh học, không phải tất cả, cho rằng ý thức là một chức năng của những liên kết thần kinh ở quy mô lớn và phức tạp trong kiến trúc não bộ. Ý thức của con người là cái đã xảy ra khi bạn đạt đến \(10^{11}\) neuron và \(10^{14}\) synapse [điểm tiếp hợp thần kinh]. Nó đặt ra mọi loại câu hỏi khác: Ý thức là gì nếu như bạn có \(10^{20}\) hoặc \(10^{30}\) synapse? Một sinh vật như vậy có gì để nói với chúng ta giống như chúng ta có gì để nói với những con kiến? Cho nên ít nhất điều có vẻ không xảy đến với tôi là khi tranh luận từ quan điểm ý thức, một tính liên tục [continuum] của ý thức giữa giới động vật và thực vật, chứng minh sự tồn tại của Thượng đế. Chúng ta có những cách giải thích khác mà dường như nó hoạt động khá tốt. Chúng ta không biết về những chi tiết, mặc dù nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo có thể giúp chúng ta làm rõ điều đó. Song chúng ta cũng không biết về những chi tiết của giả thuyết thay thế. Cho nên khó có thể nói lập luận này là thuyết phục.

Tiếp đến là lập luận xuất phát từ trải nghiệm. Nhiều người có những trải nghiệm tôn giáo. Điều đó là chắc chắn. Họ có những trải nghiệm ấy ở khắp thế giới, và có một số tương tự thú vị ở những trải nghiệm tôn giáo mà chúng có mặt ở khắp nơi. Chúng mạnh mẽ, cực kỳ thuyết phục về mặt cảm xúc, và chúng thường dẫn người ta đến cải biến cuộc đời mình và làm việc thiện, mặc dù điều đối lập cũng xảy ra. Thế nào, còn về lập luận này thì sao? Được thôi, tôi không có ý phản đối hay chế giễu những trải nghiệm tôn giáo. Nhưng vấn đề là ở chỗ, trải nghiệm như vậy có thể đem lại điều gì ngoài những bằng chứng có tính giai thoại về sự tồn tại của Thượng đế hoặc thần linh? Một triệu trường hợp về UFO kể từ năm 1947. Nhưng, chúng ta có thể nói, chúng không tương xứng – bất cứ trường hợp nào – với những cuộc viếng thăm trái đất bằng tàu vũ trụ ở nơi khác đến. Rất nhiều người có thể có những trải nghiệm tôn giáo mà chúng có thể sâu sắc và xúc động nhưng vẫn không tương xứng với bất cứ điều gì giống như cảm xúc thực sự của thực tại bên ngoài. Và người ta có thể nói những điều tương tự không chỉ về UFO mà cả về những trí giác ngoại cảm và về ma quỷ và yêu tinh và vân vân. Mọi nền văn hóa đều có những điều tương tự như vậy. Điều đó không có nghĩa là tất cả chúng tồn tại; điều đó không có nghĩa là bất cứ cái nào trong số ấy cũng tồn tại.

Tôi cũng để ý rằng phững phân tử đặc biệt có thể đem lại trải nghiệm tôn giáo. Nhiều nền văn hóa có chủ ý hít hoặc ăn những phân tử này để đem lại trải nghiệm tôn giáo. Phái dùng xương rồng gây ảo giác ở một số dân tộc Bản địa Mỹ chính xác là văn hóa đó, cũng như rượu vang được sử dụng như một thánh lễ ở nhiều tôn giáo Phương Tây. Có cả một danh sách dài các chất liệu mà con người dùng để sinh ra những trải nghiệm tôn giáo. Điều đó gợi ý rằng có một cơ sở phân tử nào đó cho trải nghiệm tôn giáo và rằng nó không cần phải tương đương với thực tại bên ngoài nào đó. Tôi nghĩ rằng đó là một quan điểm trung tâm – rằng những trải nghiệm tôn giáo, những trải nghiệm tôn giáo cá nhân, không phải là bằng chứng tự nhiên thần luận cho Thượng đế, nếu có, những phân tử với sự phức tạp nhất định có thể gây ra những trải nghiệm ấy.

Do vậy nếu tôi sau đó đi theo những lập này – từ vũ trụ luận, thiết kế luận, đạo đức luận, bản thể luận, nhận thức luận, và trải nghiệm luận – tôi phải nói rằng kết quả tổng hợp không được ấn tượng cho lắm. Nó giống như chúng ta đang tìm kiếm sự biện hộ về mặt lý tính cho điều gì đó mà lẽ ra chúng ta hy vọng sẽ đúng.

[HST] Ruprecht 106, Credits: NASA

Và tiếp đến là những vấn đề kinh điển nhất định về sự tồn tại của Thượng đế. Hãy để tôi đề cập đến một số vấn đề. Một trong số những vấn đề nổi tiếng là vấn đề về cái ác. Nó về cơ bản là như sau: Tạm thừa nhận cái ác tồn tại ở thế giới này và những hành động bất công đôi khi không bị trừng phạt. Và cũng thừa nhận rằng có Thượng đế nhân từ với con người, toàn trí, và toàn năng. Thượng đế này yêu sự công bằng, Thượng đế này quan sát mọi hành vi của con người, và Thượng đế này có khả năng can dự một cách dứt khoát vào công việc của con người.

Vậy nên, những nhà triết học trước Scorates đã hiểu rằng cả bốn tiền đề trên không thể đồng thời đúng. Ít nhất phải có một tiền đề sai. Một lần nữa hãy để tôi nói lại chúng là gì. Là cái ác tồn tại, là Thượng đế nhân từ, là Thượng đế toàn trí, là Thượng đế toàn năng. Hãy xem xét từng cái một.

Trước tiên, bạn có thể nói “Tốt thôi, cái ác không tồn tại trên thế gian. Chúng ta không nhìn thấy bức tranh toàn cục, rằng một nhúm nhỏ cái ác ở đây bị quét sạch vào biển cả của cái thiện”. Hoặc như các nhà thần học trung cổ thường nói “Thượng đế dùng Quỷ sứ vì mục đích của riêng ngài”. Đây rõ ràng là tranh luận 3 con khỉ về “không nghe cái ác …” và đã được mô tả bởi nhà thần học đương thời nổi tiếng là lời lăng mạ vu vơ đối với nhân loại, một triệu chứng của sự vô cảm và dửng dưng trước khổ đau của nhân loại. Để đảm bảo rằng tất cả mọi khổ sở và đau đớn mà con người trải qua đều chỉ là ảo tưởng. Thật là nặng lời.

Đây rành rành là một hy vọng rằng sự thật khiến người ta bất an sẽ biến mất nếu bạn chỉ cần gọi chúng là cái gì đó khác. Người ta tranh luận rằng một số nỗi đau là cần thiết để mang lại những cái tốt đẹp hơn. Nhưng tại sao, chính xác là tại sao? Nếu Thượng đế là toàn năng, tại sao Ngài không thể sắp xếp thế nào đó để không có nỗi đau? Đối với tôi đây dường như là điểm rất đáng chú ý.

Các thay thế khác là Thượng đế không nhân từ hay đầy lòng trắc ẩn. Epicures cho rằng Thượng đế thì tốt thôi nhưng con người là thứ ngài ít bận tâm nhất. Một số tôn giáo Phương Đông cũng có một số hương vị tương tự như vậy. Hay Thượng đế không toàn trí; Ngài không thể biết mọi thứ; Ngài có công chuyện ở nơi khác cho nên ngài không biết con người đang gặp rắc rối. Một cách để nghĩ về việc này là có khoảng \(10^{11}\) thế giới ở mỗi thiên hà và có khoảng \(10^{11}\) thiên hà, cho nên Thượng đế bận rộn.

Tiền đề khác là Thượng đế không toàn năng. Ngài không thể làm mọi việc. Ngài có thể khởi động Thế giới hoặc tạo ra sự sống, thi thoảng can dự vào lịch sử nhân loại, nhưng không thể ngày này qua ngày khác sắp đặt mọi chuyện trên Trái đất cho đúng. Giờ thì, tôi không cho rằng tôi biết cái nào trong số bốn khả năng ấy là đúng, nhưng rõ ràng là có sự mâu thuẫn căn bản tại trung tâm của thế giới quan thần học Phương Tây phát sinh từ vấn đề cái ác. Và tôi đã đọc được về trường hợp một hội nghị thần học gần đây tập trung vào vấn đề này, và nó hiển nhiên là một bối rối đối với các nhà thần luận.

Điều này làm nảy ra thêm một vấn đề – một vấn đề có liên quan - về sự can thiệp-vi mô. Tại sao trong mọi trường hợp cần phải có Thượng đế can dự vào lịch sử nhân loại, vào công việc của con người, như hầu hết mọi tôn giáo cho rằng điều đó diễn ra? Rằng Thượng đế hoặc các thượng đế xuống dưới và bảo con người “Không, đừng làm thế này, hãy làm thế này, đừng quên điều này, đừng cầu nguyện theo cách này, đừng tôn thờ ai đó khác, hãy cắt xẻo con của ngươi như sau.” Tại sao lại có cả một danh sách dài những điều mà Thượng đế bảo chúng ta phải thực hiện? Tại sao Thượng đế không ngay từ đầu làm cho đúng luôn? Ngài khởi tạo vũ trụ, ngài có thể làm mọi thứ. Ngài có thế nhìn thấy mọi hậu quả tương lai của hành động hiện tại của ngài. Ngài muốn một số dục vọng nhất định phải chấm dứt. Tại sao ngài không sắp xếp ngay từ lúc đầu như vậy? Sự can thiệp của Thượng đế vào việc trần tục nói nên sự bất toàn. Tôi không nói về sự kém cỏi ở quy mô con người. Rõ ràng mọi quan điểm về Thượng đế đều là tài giỏi hơn rất nhiều so với một con người tài giỏi nhất. Nhưng nó không nói về sự toàn-năng. Nó nói rằng có những mặt hạn chế.

Do vậy tôi kết luận rằng các tranh luận tự nhiên thần luận về sự tồn tại của Thượng đế, điều mà chúng ta đang nói đến, đơn giản là không được thuyết phục cho lắm. Chúng chạy lon ton theo sau những cảm xúc, hy vọng đuổi kịp. Nhưng chúng không đem lại một lập luận thỏa mãn nào cho chính mình. Song hoàn toàn có thể hình dung ra Thượng đế, không phải một thượng đế toàn năng hoặc toàn trí, chỉ là một thượng đế có năng lực vừa phải, có thể làm ra những bằng chứng tuyệt đối rõ ràng về sự tồn tại của ngài. Hãy để tôi đưa ra một vài ví dụ.

Hình dung rằng có một bộ sách linh thiêng ở mọi nền văn hóa ở đó có một số đoạn bí ẩn mà Thượng đế hoặc các thượng đế tiết lộ cho tổ tiên của chúng ta phải được truyền lại cho tương lai mà không bị thay đổi. Việc giữ cho nội dung chính xác là cực kỳ quan trọng. Rồi thì, điều này cũng không khác lắm so với tình huống của những cuốn sách được cho là linh thiêng. Nhưng cứ cho là những đoạn đang nói đến mà hôm nay chúng ta có thể nhận ra thì trước đây không thể nào nhận ra được. Ví dụ đơn giản: Mặt trời là một ngôi sao. Không ai biết điều đó, chẳng hạn, ở thế kỷ VI TCN, khi người Do Thái bị lưu đầy ở Babylon và tiếp nhận vũ trụ luận của người Babylon từ những nhà thiên văn học chủ đạo của thời đại ấy. Khoa học Babylon cổ đại là vũ trụ luận mà vẫn được lưu giữ trong Sáng thế. Giả sử thế vào đó câu truyện lại là “Đừng quên Mặt trời là một ngôi sao.”, Hay “Đừng quên, Hỏa tinh là một nơi cằn cỗi có núi nửa. Hỏa tinh, ngươi biết đấy, ngôi sao có màu đỏ? Đó là một thế giới. Nó có núi lửa, nó cằn cỗi, ở đó có mây, đã từng có những dòng sông. Và không còn gì nữa. Ngươi sẽ hiểu ra sau. Nhưng hãy tin ta. Ngay lúc này, hãy đừng quên.”

Hoặc, “Một vật đang chuyển động có xu hướng tiếp tục chuyển động. Đừng nghĩ rằng phải di chuyển các vật thể nếu muốn chúng tiếp tục chuyển động. Thực ra là ngược lại. Cho nên sau này ngươi sẽ hiểu rằng nếu ngươi không có ma sát, thì một vật đang chuyển động sẽ tiếp tục chuyển động.” Rồi, chúng ta có thể hình dung các vị tộc trưởng gãi đầu gãi tai đầy bối rối, nhưng trên hết đó là điều Thượng đế nói với họ. Cho nên họ nghiêm cẩn sao chép nó lại, và điều đó trở thành một trong số nhiều bí ẩn của những cuốn sách linh thiêng. Những điều bí ẩn ấy tiếp tục truyền lại cho tương lai cho đến khi chúng ta có thể nhận ra sự thật, chúng ta nhận ra rằng trước đây không có ai có thể luận ra sự thật ấy, và do vậy họ suy diễn sự tồn tại của Thượng đế.

Có rất nhiều trường hợp mà bạn có thể hình dung ra như vậy. Thế còn về “Ngươi không thể di chuyển nhanh hơn ánh sáng được”? Tốt thôi, bạn có thể tranh luận rằng không có ai chịu rủi ro lập tức khi phá vỡ điều răn đó. Nhưng nó có thể là một sự hiếu kỳ: “Chúng tôi không hiểu điều đó, nhưng chúng tôi tuân theo mọi điều răn khác.” Hoặc “Không có hệ quy chiếu ưu tiên.” Hay về một số phương trình? Định luật Maxwell viết bằng chữ tượng hình Ai Cập cổ đại hoặc ký tự Trung Hoa cổ đại hoặc chữ Hebrew cổ đại. Rồi mọi số hạng được định nghĩa: “Đây là điện trường, đây là từ trường.” Chúng tôi không biết chúng là gì, nhưng chúng tôi sẽ ghi chúng lại, và sau này, chắc chắn, đó là các định luật Maxwell hoặc phương trình Schrödinger. Bất cứ điều gì tương tự như vậy đều là khả thi nếu như Thượng đế tồn tại và Thượng đế muốn chúng ta có bằng chứng về sự tồn tại của Ngài. Hoặc trong sinh vật học. Thế còn về “chuỗi xoắn kép là bí mật của sự sống”? Bạn có thể nói người Hy Lạp đã phát hiện ra điều đó bởi họ dùng biểu tượng hai con rắn quấn lấy nhau. Bạn biết đấy, trong quân đội Mỹ mọi bác sĩ đều có hình hai con rắn quấn nhau trên ve áo, và nhiều tổ chức bảo hiểm y tế cũng dùng nó. Và nó có sự liên hệ , nếu không phải với sự tồn tại sự sống, thì ít nhất cũng là vì sự sống.

Giá như Thượng đế muốn đưa cho chúng ta vài chứng cớ, thì việc liên quan chứng cứ về Thượng đế không cần thiết phải bị hạn chế vào những phương pháp đáng ngờ khi đưa ra những tuyên bố bí ẩn cho những nhà hiền triết cổ đại và hy vọng những tuyên bố ấy sẽ sống sót. Thượng đế đáng ra có thể khắc Mười Điều răn lên mặt Trăng. Thật lớn. Mỗi điều răn rộng hàng chục kilô-mét. Và không ai có thể nhìn thấy từ Trái đất nhưng rồi một ngày những chiếc kính viễn vọng lớn được phát minh hoặc một tàu vũ trụ có thể tiếp cận mặt Trăng, và thấy chúng được khắc trên bề mặt mặt Trăng. Người ta có thể thốt ra, “Làm thế nào mà chúng có thể ở đó được?” Và rồi sẽ có những giả thuyết, hầu hết những giả thuyết ấy sẽ cực kỳ thú vị.

Hoặc tại sao không phải là cây thánh giá dài 100 km trên quỹ đạo trái đất? Thượng đế ắt phải làm được điều đó. Có phải không? Tất nhiên rồi, tạo ra vũ trụ ư? Một việc đơn giản như đặt một cây thánh giá lên quỹ đạo Trái đất? Hoàn toàn có thể. Vậy tại sao Thượng đế không làm những việc như vậy? Hoặc nói khác, tại sao Thượng đế lại rất rõ ràng trong Kinh thánh nhưng lại quá mờ nhạt trong thế gian?

Tôi nghĩ rằng đó là vấn đề nghiêm túc. Cũng như hầu hết những nhà thần luận vĩ đại theo đuổi, nếu tôi tin rằng chân lý tôn giáo chỉ xảy ra khi nào có sự hội tụ giữa hiểu biết của chúng ta về thế giới tự nhiên và mặc khải, thì tại sao sự hội tụ này lại quá mong manh đến thế khi mà đáng lẽ ra nó phải thật sự mạnh mẽ?

Do vậy, để kết luận, tôi muốn trích dẫn những lời mở đầu trong tác phẩm Luận về Thượng đế của Protagoras ở thế kỷ V TCN:

“Về các thượng đế tôi không có cách nào biết họ có tồn tại hay không hoặc trông họ ra sao. Rất nhiều điều ngăn cản hiểu biết của tôi. Trong số ấy, có một thực tế là người ta chưa bao giờ trông thấy họ.”

(Bản thảo, cập nhật: 20220717)

Footnotes

  1. Năm 1998 hai nhóm vật lý thiên văn đã độc lập báo cáo bằng chứng bất ngờ rằng sự dãn nở của vũ trụ đang được gia tốc. Những khám phá này gợi ý rằng vũ trụ không dao động mà sẽ tiếp tục dãn nở mãi↩︎

  2. Kính viễn vọng trên mặt đất đã cung cấp câu trả lời này vào năm 1998, xem ghi chú trước↩︎

  3. ontological argument↩︎