Bộ não của Broca

Carl Sagan
Broca’s brain
dịch

Bộ não của Broca, chương đầu tiên trong cuốn sách cùng tên của Carl Sagan

Author

Le Hoang Anh

Published

February 12, 2022

Một lần Carl Sagan đến thăm Bảo tàng Con người ở Paris, lang thang trong những hành lang đầy mẫu vật rồi đi tới căn phòng chứa những bộ sưu tập thật rùng rợn, những đầu người nhăn nhó, lè lưỡi, trợn mắt; những bộ não của các bệnh nhân, những bào thai, v.v. được ngâm trong những trước lọ chứa dịch formalin. Sagan dừng lại cầm lên tay chiếc lọ có ghi bộ não của Broca.

Đây là nội dung chính của chương 1 Bộ não của Broca trong cuốn sách cùng tên của Carl Sagan (xuất bản lần đầu 1974, nội dung này dựa trên ấn bản đầu tiên của Ballantine Books 1980).

Paul Broca

PAUL BROCA là nhà giải phẫu học, nhà thần kinh học, nhà nhân loại học, một nhân vật quan trọng cho sự phát triển của y học và ngành nhân loại học ở thế kỷ 19. Ông đã thực hiện các công trình xuất sắc về bệnh ung thư và điều trị chứng phình mạch, và đóng góp mang tính bước ngoặt cho hiểu biết về chứng mất ngôn ngữ – chứng suy yếu năng lực diễn đạt ý nghĩ. Broca là một người lỗi lạc và đầy lòng trắc ẩn. Ông quan tâm đến việc chăm sóc y tế cho người nghèo. Trong đêm tối, đánh liều với tính mạng của mình, ông lén lút mang 73 triệu Franc ra khỏi Paris trên một chiếc xe ngựa kéo, được nhét trong những túi hành lý giấu bên dưới những củ khoai tây, đó là tài sản của Assitance Publique (“Tổ chức hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cộng động”) – ông tin rằng, dù thế nào đi nữa, ông cũng đang cứu tài sản này khỏi sự cướp bóc. Ông là nhà sáng lập ra ngành phẫu thuật não hiện đại. Ông nghiên cứu về tử vong ở trẻ. Cuối sự nghiệp ông được phong làm thượng nghị sĩ.

Một nhà viết tiểu sử nói rằng ông yêu sự thanh bình và sự khoan dung. Năm 1848 ông thành lập hiệp hội những người “tự do tư tưởng.” Gần như một mình ông trong số những người có học vấn Pháp thời đó, đã đồng tình với tư tưởng của Charles Darwin về tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên. T.H. Huxley, “con chó bull của Darwin” nhận xét rằng chỉ cần nhắc đến tên của Broca khiến ông tràn ngập lòng biết ơn, và Broca được trích dẫn là đã nói “Tôi thà là con khỉ bị biến chất còn hơn là đứa con suy đồi của Adam.” Điều này và cùng những quan điểm khác ông bị lên án công khai vì theo “chủ nghĩa duy vật” và vì đầu độc giới trẻ, giống như Socrates. Mặc dầu vậy ông vẫn được phong làm nghị sĩ.

Trước đó, Broca đã gặp nhiều khó khăn khi thành lập hội nhân loại học ở Pháp. Bộ Giáo dục và Sở Cảnh sát tin rằng nhân loại học, với tư cách là tự do theo đuổi tri thức về con người, ắt ngay từ đầu đã mang tính cách lật đổ nhà nước. Khi Broca cuối cùng được cấp phép trình bày về khoa học với 18 đồng nghiệp, Sở Cảnh sát buộc Broca phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì có thể được nói ra trong những cuộc họp ấy mà “chống lại xã hội, tôn giáo và chính phủ.” Ngay cả như vậy, nghiên cứu về con người bị coi là quá nguy hiểm đến nỗi một trinh sát mặc thường phục được giao nhiệm vụ tham gia mọi cuộc họp, với điều kiện là giấy phép cho việc tụ họp sẽ bị rút ngay lập tức nếu như trinh sát viên bị xúc phạm bởi bất kỳ điều gì được nói ra. Trong hoàn cảnh ấy, Hiệp hội Nhân loại học Paris đã họp mặt lần đầu tiên vào ngày 19 Tháng 5 năm 1859, năm xuất bản Nguồn gốc của các loài. Ở những lần hội họp sau đó rất nhiều chủ đề đã được thảo luận – khảo cổ học, thần học, sinh lý học, giải phẫu học, y học, tâm thần học, ngôn ngữ và lịch sử – và người ta dễ dàng hình dung ra nhiều lần người trinh sát viên ngủ gật trong góc xó. Một lần, Broca kể lại, người trinh sát muốn đi dạo không phép một chút và hỏi liệu anh ta có thể rời đi mà không có gì đe dọa nhà nước được nói ra trong lúc anh ta vắng mặt. Broca trả lời, “Không, không được, anh bạn của tôi ơi, anh không được đi đâu hết: hãy ngồi xuống, và kiếm tiền công của anh.” Không chỉ cảnh sát mà cả giới tăng lữ cũng phản đối sự phát triển của ngành nhân loại học ở Pháp, vào năm 1876 đảng chính trị Công giáo La mã đã tổ chức một chiến dịch lớn phản đối việc giảng dạy môn này ở Viện nhân chủng học Paris do Broca sáng lập.

Paul Broca mất năm 1880, có lẽ chính là do bệnh phình mạch mà ông đã nghiên cứu rất xuất sắc. Vào thời điểm ông chết ông đang nghiên cứu một cách toàn diện về giải phẫu não bộ. Ông đã thành lập những hiệp hội nghề nghiệp đầu tiên, những trường nghiên cứu, những tạp chí khoa học về nhân loại học hiện đại ở Pháp. Các mẫu vật ở phòng thí nghiệm sau nhiều năm được tập hợp thành cái được gọi là Bảo tàng Broca. Sau này trở thành một bộ phận của Bảo tàng Con người.

Chính Broca, người có bộ não mà tôi đang nâng trên tay, đã thiết lập bộ sưu tập ghê rợn mà tôi đang suy ngẫm. Ông đã nghiên cứu phôi thai và khỉ, và nghiên cứu người thuộc mọi chủng tộc, đo đạc một cách điên cuồng nhằm cố gắng hiểu bản chất của con người. Và mặc cho vẻ bề ngoài hiện tại của bộ sưu tập và nghi ngờ của tôi, ít nhất theo chuẩn mực của thời đại ông, ông không sô-vanh hiếu chiến hay kỳ thị chủng tộc hơn hầu hết người khác, và dĩ nhiên, càng không trông cậy được vào sự hư cấu, càng hiếm khi là sự thật: một nhà khoa học lạnh lùng, không lòng trắc ẩn, thản nhiên, và không để ý tới những hậu quả con người từ những gì ông ta làm. Broca rất thận trọng.

[…] Broca là nhà giải phẫu não xuất sắc, ông đã thực hiện những nghiên cứu quan trọng về vùng viền não (limbic), trước đây được gọi là khứu não (“vùng não liên quan đến mùi”), mà giờ đây chúng ta biết là có liên hệ sâu sắc với cảm xúc của con người. Nhưng ngày nay có lẽ Broca được biết đến nhiều nhất vì khám phá của ông về một vùng cuộn thứ 3 nhỏ ở thùy trán bên trái của vỏ não, nơi được gọi là vùng Broca. Phát âm tiếng nói, hóa ra, như Broca đã suy luận chỉ từ những bằng chứng phân mảnh, ở một chừng mực quan trọng, được định vị và được điều khiển bởi vùng Broca. Đây là một trong những khám phá đầu tiên về sự phân tách chức năng của bán cầu phải và bán cầu trái của não bộ. Nhưng quan trọng hơn hết, đó là một trong những chỉ dẫn đầu tiên về các chức năng não chuyên biệt tồn tại ở những vùng của não bộ, rằng có một sự liên hệ giữa giải phẫu não với những gì mà não bộ làm, một hoạt động mà đôi lúc được gọi là “tư duy.”

Não Broca

Tôi hình dung phòng thí nghiệm của Raph Holloway, nhà nhân loại vật lý học tại trường đại học Columbia, cũng tương tự như phòng thí nghiệm của Broca. Holloway làm ra những khuôn bằng mủ cao su cho những phần bên trong hộp sọ của con người và của các sinh vật liên quan, trong quá khứ và ở hiện tại, để tìm cách khôi phục, từ những ấn tượng ít ỏi về cấu trúc bên trong của hộp sọ, để xem não bộ phải ra sao. Holloway tin rằng từ hộp sọ của một sinh vật ông có thể nói liệu vùng Broca có mặt hay không, và ông đã tìm ra bằng chứng về sự xuất hiện vùng Broca ở loài Homo habilis khoảng hai triệu năm trước – cũng chính vào thời điểm xuất hiện những kết cấu đầu tiên và những công cụ đầu tiên. Trong chừng mực nhất định có điều gì đó liên quan tới thị giác não tướng học. Rất có khả năng là tư duy và kỹ nghệ của con người có liên quan chặt chẽ với sự phát triển của tiếng nói. Và vùng Broca có thể theo một ý nghĩa thực sự là một trong những điểm tựa của loài người chúng ta, cũng như đó là phương thức để chúng ta lần ra mối liên hệ của chúng ta với tổ tiên của mình trên con đường tiến tới nhân loại.

Và đây bộ não của Broca đang trôi nổi, trong dung dịch formalin và gồm nhiều mảnh, ngay trước mặt tôi. Tôi có thể tìm ra khu vực viền mà Broca đã nghiên ở những người khác. Tôi có thể thấy những nếp cuộn của neocortex (vỏ não mới). Tôi thậm chí có thể tìm thấy chất xám-trắng ở thùy trán bên trái nơi vùng Broca của chính Broca nằm ở đó, đang phân hủy và không ai để ý, trong một góc ẩm mốc của bộ sưu tập do chính Broca đã khởi dựng.

Thật khó có thể cầm bộ não của Broca mà không tự hỏi liệu theo một ý nghĩa nào đó Broca vẫn ở trong đó – sự hóm hỉnh của ông, sắc mặt hoài nghi của ông, những cử chỉ khoa múa tay đột ngột khi ông nói, những khoảnh khắc lặng lẽ và đa cảm của ông. Trong sự sắp đặt của các neuron trước mặt tôi liệu có thể nào bảo tồn được một ký ức về khoảnh khắc vinh quang khi ông tranh luận trước tổng hợp các khoa ngành y (và cha ông tràn ngập niềm tự hào) về nguồn gốc của chứng mất ngôn ngữ? Một bữa tối với người bạn Victor Hugo? Một cuộc đi dạo vào buổi tối mùa thu tràn ngập ánh trăng, vợ ông cầm một chiếc ô đẹp, thả bước dọc theo con phố Quai Voltaire và cây cầu Pont Royal? Chúng ta về đâu khi chúng ta chết? Paul Broca có còn ở đó trong chiếc bình chứa đầy formalin của ông? Có lẽ những vết tích của ký ức đã bị phân hủy, mặc dầu có những bằng chứng từ những nghiên cứu hiện đại về bộ não cho rằng một ký ức cụ thể được lưu lại một cách lặp thừa ở nhiều nơi trong bộ não. Liệu ở một thời điểm nào đó trong tương lai, khi thần kinh học đã tiến bộ về chất, người ta có thể khôi phục ký ức và nhận thức của ai đó đã chết từ lâu? Và liệu điều đó có gì tốt đẹp không? Điều đó có thể là sự xâm phạm riêng tư đến tột cùng. Nhưng nó cũng là một hình thức thực tế của sự bất tử, bởi vì, đặc biệt đối với những người như Broca, tư duy của chúng ta rõ ràng là một khía cạnh chủ đạo cho biết chúng ta là ai.

Từ tính cách của căn phòng lưu trữ bị bỏ quên này ở Bảo tàng Con người, tôi đã sẵn sàng quy kết những người đã lắp ráp bộ sưu tập – lúc đó tôi không biết đó là Broca – là người rõ ràng phân biệt giới tính, phân biệt chủng tộc và sô-vanh hiếu chiến, là người phản đối kịch liệt tư tưởng về mối liên hệ giữa con người với các loài linh trưởng khác. Điều đó phần nào là sự thật. Broca là một người theo chủ nghĩa nhân văn của thế kỷ 19, nhưng không thể rũ bỏ những thành kiến đang chi phối, những căn bệnh của xã hội loài người trong thời đại của ông. Ông nghĩ rằng đàn ông ưu việt hơn đàn bà, người da trắng ưu việt hơn người da đen. Thậm chí ông kết luận rằng bộ não của người Đức không khác biệt đáng kể với bộ não của người Pháp khi bác bỏ tuyên bố của các dân tộc Giéc-manh về sự thấp kém của dân tộc Pháp. Nhưng ông kết luận rằng có một mối liên hệ sâu sắc giữa sinh lý học của não bộ giữa loài tinh tinh và loài người. Broca, người sáng lập ra hiệp hội những người tự do tư tưởng từ lúc còn trẻ, đã tin vào tầm quan trọng của sự tìm tòi không bị hạn chế và đã sống cả đời mình để theo đuổi mục tiêu ấy. Thất bại của những tư tưởng ấy của ông cho thấy rằng những người hào phóng theo đuổi tri thức tự do như Broca vẫn có thể bị chệch đường bởi sự mù quáng lan tràn và nặng nề. Xã hội hủy hoại điều tốt đẹp nhất trong chúng ta. Tôi nghĩ rằng, hơi thiếu công bằng khi phê phán một người vì người đó không có chung những khai minh của thời đại sau, nhưng cũng hết sức đáng buồn khi những thành kiến ấy đã lan tràn đến như vậy. Vấn đề nảy sinh là những bất chắc về chân lý thông thường ở thời đại của chính chúng ta sẽ được coi là sự mù quáng không thể chấp nhận được ở thời đại sau. Một cách để đền đáp Paul Broca về bài học mà ông đã tình cờ đưa cho chúng ta là phải thách thức, một cách sâu sắc và nghiêm túc những niềm tin mà chúng ta xem là vững chắc nhất.

Những chiếc bình bị lãng quên này và những nội dung ghê rợn bên trong đã được thu thập phần nào bằng tinh thần nhân văn, và có lẽ ở một kỷ nguyên nào đó trong tương lai tiến bộ trong nghiên cứu về bộ não, chúng có thể một lần nữa chứng minh là hữu ích. Tôi sẽ quan tâm đến việc hiểu biết thêm một chút về người đàn ông có ria mép màu đỏ, người, phần nào đó, đã trở về Pháp từ New Caledonia.

Nhưng những thứ xung quanh, cảm giác về một căn phòng rùng rợn, tự nhiên làm dấy lên những ý nghĩ lo âu khác. Ít nhất, chúng ta cảm thấy ở nơi như thế này một sự đau đớn cảm thông cho những người – đặc biệt là những người chết trẻ và chết trong đau đớn – đã được ghi nhớ theo cách không thích đáng. Những người ăn thịt đồng loại ở tây bắc New Guinea xếp chồng những hộp sọ làm trụ cửa ra vào, và đôi lúc làm dầm đỡ. Có lẽ đó là nguyên vật liệu xây dựng thông dụng sẵn có nhất, nhưng các kiến trúc sư không thể hoàn toàn không biết gì về nỗi kinh hoàng mà những công trình của họ gợi lên ở những người đi ngang qua mà không hề ngờ vực. Đầu lâu được sử dụng bởi tổ chức SS của Hitler, bởi Hell’s Angels, bởi những pháp sư, bởi những tên cướp biển, và thậm chí bởi cả những người dán nhãn cho những lọ iốt, một nỗ lực có ý thức nhằm gợi lên sự kinh hoàng. Và điều đó hoàn toàn hợp lý. Nếu như tôi thấy mình ở trong một căn phòng chứa đầy đầu lâu, thì rất có thể có ai đó ở gần, có lẽ là một đàn linh cẩu, có lẽ là một kẻ chuyên chặt đầu dữ tợn, kẻ có nhiệm vụ hoặc thú vui là sưu tầm đầu lâu. Tốt hơn hết là né tránh hoặc giết chết những kẻ ấy. Những sợi tóc dựng đứng ở sau gáy tôi, nhịp tim và mạch đập tăng lên, cảm giác lạnh và lạ thường ấy đã được quá trình tiến hóa thiết kế ra khiến tôi hoặc chiến đấu hoặc bỏ chạy. Những ai tránh bị chặt đầu sẽ để lại nhiều hậu duệ hơn. Trải nghiệm những cảm giác sợ hãi như vậy đem lại một lợi thế tiến hóa. Thấy mình trong một căn phòng đầy những bộ não còn kinh hãi hơn nhiều, cứ như là có một con quỷ không thể tả được, cầm những thanh kiếm khủng khiếp và những công cụ dùng để nạo vét, đang thoắt ẩn thoắt hiện và nhỏ nước dãi ở đâu đó trên những gác mái của Bảo tàng Con người.

Tôi nghĩ rằng, tất cả còn tùy thuộc vào mục đích của bộ sưu tập. Nếu như mục tiêu của nó là để tìm tòi, nếu như người ta thu được những bộ phận của con người sau khi chết (post mortem) – đặc biệt nếu có sự đồng ý từ trước của người mà những bộ phận ấy đã từng thuộc về họ – thì người ta đã không làm gì có hại, và có lẽ trong dài hạn còn là điều gì đó tốt đẹp nhân văn. Nhưng tôi không chắc chắn rằng các nhà khoa học được giải thoát khỏi những động cơ của những người ăn thịt đồng loại ở New Guinea; liệu họ ít ra cũng nói rằng: “Tôi sống cùng những chiếc đầu này hằng ngày. Chúng không làm tôi bận tâm. Tại sao bạn lại dễ mất lòng đến vậy?”?

LEONARDO VÀ VESALIUS phải hạ mình đi hối lộ và ăn trộm để lần đầu tiên thực hiện những giải phẫu có hệ thống về con người, mặc dù đã có những trường học giải phẫu phát triển và có năng lực ở Hy Lạp cổ đại. Dựa trên cơ sở giải phẫu thần kinh, người đầu tiên đã định vị được trí tuệ của con người ở trong đầu là Herophilus xứ Chalcedon, ông được biết đến rộng rãi khoảng năm 300 TCN. Ông cũng là người đầu tiên phân biệt dây thần kinh vận động với thần kinh giãn, và đã thực hiện nghiên cứu kỹ lưỡng nhất về giải phẫu não bộ mà người ta thử nghiên cứu tính cho đến thời Phục hưng. Không nghi ngờ gì nữa nhiều người phản đối việc ưa chuộng những thí nghiệm kinh khủng như vậy. Có một nỗi sợ ẩn giấu, được công khai trong truyền thuyết Faust, rằng có một số thứ hàm nghĩa không nên hiểu, rằng con người tiến hành việc tìm tòi là quá nguy hiểm. Và trong thời đại của chính chúng ta, nếu chúng ta không may hoặc không khôn ngoan, sự phát triển của vũ khí hạt nhân sẽ chính là trường hợp này. Nhưng trong trường hợp của những thí nghiệm trên bộ não, nỗi sợ của chúng ta ít lý trí hơn. Chúng đi sâu hơn vào quá khứ tiến hóa của chúng ta. Chúng gợi lên những hình ảnh của con lợn rừng và những kẻ cướp đường, những kẻ có thể khủng bố người đi đường và dân cư vùng nông thôn ở Hy Lạp cổ đại, bằng cách chặt chân hoặc kéo chân cho đến chết (tra tấn kiểu Procrustes) hoặc theo cách tàn độc khác, cho đến khi một anh hùng nào đó – Theseus hoặc Hercules – dễ dàng đuổi chúng đi. Trong quá khứ những nỗi sợ ấy phục vụ một chức năng thích nghi và hữu ích. Nhưng tôi tin chúng chủ yếu là hành trang cảm xúc cho hiện tại. Với tư cách là một nhà khoa học viết về bộ não, tôi quan tâm tới việc tìm ra những nỗi khiếp sợ đang ẩn nấp bên trong tôi, chúng phải được bộc lộ để phục vụ nghiên cứu của tôi về bộ sưu tập của Broca. Những nỗi sợ ấy là đáng để đấu tranh.

Mọi sự tìm tòi đều mang theo mình yếu tố rủi ro nào đó. Không có đảm bảo rằng vũ trụ sẽ tuân theo những khuynh hướng của chúng ta. Nhưng tôi không thấy bằng cách nào chúng ta có thể đương đầu với vũ trụ – cả vũ trụ bên trong lẫn vũ trụ bên ngoài – mà không nghiên cứu về nó. Cách tốt nhất để tránh sự lạm dụng là làm cho sự an ủi nói chung không được mù khoa học, nhằm hiểu ra ẩn ý của những nghiên cứu ấy. Đổi lại sự tự do trong nghiên cứu, các nhà khoa học buộc phải giải thích công trình của họ. Nếu khoa học được xem là một giới giáo đóng kín, quá hóc búa và quá bí hiểm để cho những người bình thường có thể hiểu được, thì nguy cơ lạm dụng càng lớn hơn. Nhưng nếu khoa học là chủ đề của mối quan tâm và lo lắng chung – nếu như cả niềm vui sướng cùng những hậu quả xã hội của nó đều được thảo luận một cách thường xuyên và thuần thục ở trường học, trên báo chí và tại bàn ăn tối – chúng ta sẽ cải thiện đáng kể triển vọng để hiểu thế giới này thực sự là gì và để cải thiện cả nó lẫn chúng ta. Đó là một ý tưởng, đôi lúc tôi tưởng tượng ra rằng nó vẫn ở yên đó, lững lờ trong dung dịch formalin, trong bộ não của Broca.